Ngành bông Việt Nam thực trạng và dự báo – P 1! – Vietnam Cotton & Spinning Association

Or you want a quick look:

VIETRADE - Ngành công nghiệp dệt may tiếp tục mở rộng đã khiến nhu cầu về bông tại Việt Nam tăng mạnh. Sản lượng bông của Việt Nam niên vụ 2009/2010 đã tăng nhẹ so với năm ngoái, chủ yếu do sự gia tăng diện tích cây trồng. Mặc dù sản lượng có tăng nhưng cũng chỉ đáp ứng khoảng 1,4% tổng nhu cầu về bông của ngành dệt may Việt Nam. Nhập khẩu bông của Việt Nam niên vụ 2009/2010 dự kiến đạt mức kỷ lục là +84888672676 tấn. Hoa Kỳ tiếp tục là nhà cung cấp bông lớn nhất cho Việt Nam trong 2 năm liên tiếp, vchiếm gần 50% tổng kim ngạch nhập khẩu bông của cả nước.

Việt Nam hiện đứng thứ 10 thế giới về xuất khẩu hàng dệt may. Do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2009 chỉ đạt 9.01 tỷ đô la Mỹ, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Điều này có thể được xem như là một thành công của Việt Nam vì dệt may là ngành duy nhất vẫn đạt được kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong khi kim ngạch xuất khẩu chung bị sụt giảm. Nguyên nhân chính là hàng dệt may Việt Nam vẫn đứng vững tại các thị trường xuất khẩu truyền thống (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) và mở rộng thêm nhiều thị trường mới (Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Đông, Singapore) cũng như thị trường trong nước. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 10,5 tỷ đô la Mỹ và năm 2020 là 20 tỷ đô la Mỹ.

[external_link_head]

Xét về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất. Cụ thể, trong 8 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt kim ngạch 3,94 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2009, sang EU đạt 1,18 tỷ USD, tăng 6,7%, và sang Nhật Bản đạt 691 triệu USD, tăng 14,3%. Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 3 thị trường này đạt 5,81 tỷ USD, chiếm 83,2% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 8 tháng đầu năm 2010.

READ  Hình bát giác đều? Cách tính diện tích hình bát giác đều, góc bằng bao nhiêu

Sản lượng bông xơ Việt Nam có xu hướng tăng do diện tích trồng bông và mức giá thu mua trên thị trường tăng nhẹ. Sản lượng sợi bông niên vụ 2008/09 trên cả nước đạt 3.650 tấn và niên vụ 2009/10 ước đạt 4.280 tấn, nhưng chỉ đáp ứng khoảng 1,4% nhu cầu về bông vải của ngành dệt may.

Do điều kiện thổ nhưỡng không thật sự phù hợp, giống bông cũ và thoái hóa, điều kiện canh tác lại chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất bông của nước ta đạt thấp và để đáp ứng được nhu cầu trong nước, nên hàng năm, ngành dệt may phải nhập khẩu một lượng bông lớn từ Mỹ, Ấn Độ, châu Phi và một số nước khác. Niên vụ 2008/09 nước ta nhập khẩu khoảng +84888672676 tấn bông, tăng 7,6%/năm. Theo thống kê của Bộ Công thương, hết 9 tháng đầu năm 2010, kim ngạch nhập khẩu bông nước ta đạt +84888672676 tấn, trị giá 493 triệu USD, tăng 80% so với cùng kỳ năm 2009. Nhập khẩu sợi các loại 9 tháng qua cũng đạt trên 800 triệu USD, tăng 41% so với cùng kỳ.

Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu bông xơ của nước ta từ Hoa Kỳ đạt kỷ lục ở mức +84888672676 tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2008, chiếm gần 50% tổng kim ngạch nhập khẩu bông của cả nước. Theo số liệu thống kê, 2 quý đầu năm 2010, kim ngạch nhập khẩu bông từ Hoa kỳ chiếm 33,20% lượng nhập bông của cả nước, đạt 61,9 nghìn tấn đạt trị giá 106,2 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm 2009, thì giảm 6,74% về lượng và tăng 6,17% về trị giá. Tuy đứng đứng thứ hai sau Hoa Kỳ, nhưng Ấn Độ lại là thị trường có lượng và kim ngạch tăng trưởng đột biến so với cùng kỳ năm ngoái. 6 tháng năm 2010, Việt Nam đã nhập 46,7 nghìn tấn bông các loại từ Ấn Độ, trị giá 76,8 triệu USD, tăng 1339,73% về lượng và tăng 1752,73% về trị giá so với cùng kỳ.

Tình hình sản xuất:

Theo số liệu thống kê của Bộ NN & PTNT, sản lượng bông nước ta niên vụ 2009/10 ước đạt khoảng +84888672676 tấn hạt bông (tương đương 3.650 tấn xơ bông với tỷ lệ 36,5% bông được bỏ hạt), tăng 42% so với niên vụ năm trước.

READ  Công thức tính diện tích tam giác

Diện tích trồng bông niên vụ 2009/10 ước đạt 8.000 ha, tăng khoảng 53% so với niên vụ 2008/09 do giá bông trên thế giới tăng khiến nhiều người nông dân quay trở lại trồng bông. Diện tích bông tăng mạnh so với năm trước vẫn chủ yếu tập trung tại các vùng Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Hiện tại, giá thu mua sản phẩm bông trong nước ở mức khoảng +84888672676 đồng/kg, tăng 17% so với mức giá niên vụ trước. Ngoài ra, Chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong tháng +84888672676 xác định trong niên vụ 2009 – 2010 sẽ mở rộng diện tích trồng bông trên cả nước lên khoảng 8.000 ha, và trong năm 2015 đạt +84888672676 ha, với sản lượng +84888672676 tấn bông xơ.

Bảng 1: Sản lượng bông nước ta theo khu vực, 2008 – 2010

2008

2009*

2010*

Khu vực

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

1000 ha

mét tấn /ha

nghìn mét tấn

1000 ha

mét tấn /ha

nghìn mét tấn

1000 ha

mét tấn /ha

nghìn mét tấn

Đồng bằng sông Hồng

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

0,00

[external_link offset=1]

Vùng Đông Bắc

0,26

1,20

0,32

0,30

1,20

0,36

0,30

-

-

Vùng Tây Bắc

2,20

1,13

2,49

2,20

1,15

2,53

2,20

-

-

Bờ biển Bắc Trung Bộ

0,05

0,42

0,02

0,10

0,50

0,05

0,10

-

-

Bờ biển Nam Trung Bộ

0,90

2,29

2,06

1,00

1,60

1,60

1,00

-

-

Tây Nguyên

0,78

1,28

1,00

2,50

1,21

3,03

3,20

-

-

Vùng Đông Nam

1,01

1,13

1,14

1,90

1,28

2,43

2,20

-

-

Đồng bằng sông Cửu Long

0,01

0,06

0,00

0,01

0,60

0,01

0,01

-

[external_link offset=2]

-

Tổng

5,21

1,35

7,02

8,01

1,25

10,00

9,01

1,30

11,71

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Tổng cục Thống Kê. (*): ước tính 

Dự báo sản lượng bông niên vụ 2010/11

Diện tích trồng bông nước ta niên vụ 2010/11 ước tính khoảng 9.000 ha, tăng nhẹ so với niên vụ 2009/10. Nhu cầu tiêu thụ ngô cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi tăng mạnh cũng như việc trồng ngô tạo lợi nhuận cao hơn so với canh tác bông khiến nhiều hộ nông dân chuyển từ trồng bông sang trồng ngô cũng khiến cho diện tích trồng bông của nước ta không tăng mạnh.

Bảng 2: Tình hình sản xuất bông nước ta từ niên vụ 2007/2008 đến niên vụ 2010/2011

2007/08

2008/09

2009/10

(ước tính)

2010/2011*

(mục tiêu)

Diện tích cây trồng (1000 ha)

12,4

5,21

8,01

9,01

Năng suất cây trồng (mét tấn/ha)

1,3

1,35

1,25

1,30

Sản lượng hạt bông (nghìn mét tấn)

16,12

7,033

10,00

11,71

Tỷ lệ tách hạt (%)

36,5

36,5

36,5

36,5

Sản lượng bông bải (nghìn mét tấn)

5,88

2,57

3,65

4,28

Số lượng (1,000 kiện)

27,01

11,80

16,76

19,64

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn, Tổng cục Thống Kê. 

Tiêu thụ:

Tiêu thụ bông trong nước tiếp tục tăng nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng của ngành công nghiệp dệt may nước ta. Cả nước hiện có 145 nhà máy kéo sợi với công suất +84888672676 tấn vải bông/ năm. Trong 5 năm trở lại đây, tiêu thụ bông trong nước tăng với tốc độ trung bình là 9-10%/năm. Ước tính, tiêu thụ bông trong nước niên vụ 2008/09 khoảng +84888672676 tấn (hoặc 1,2 triệu kiện), niên vụ 2009/10 là +84888672676 tấn (tương đương 1,38 triệu kiện) và niên vụ 2010/11 là 3+84888672676 tấn (tương đương 1,47 triệu kiện). [external_footer]

See more articles in the category: Diện tích

Leave a Reply